Hệ trục toạ độ Oxy, toạ độ của vectơ và của điểm, biểu thức toạ độ của các phép toán vectơ, khoảng cách giữa hai điểm, toạ độ trung điểm và trọng tâm tam giác.
Hệ trục toạ độ, toạ độ của vectơ và điểm, biểu thức toạ độ của các phép toán vectơ, khoảng cách, trung điểm và trọng tâm tam giác.
Một bản tin dự báo thời tiết thể hiện đường đi trong 12 giờ của một cơn bão trên một mặt phẳng toạ độ (Hình 4.31). Trong khoảng thời gian đó, tâm bão di chuyển thẳng đều từ vị trí có toạ độ $(13,8;\; 108,3)$ đến vị trí có toạ độ $(14,1;\; 106,3)$.
Trong bài học này, ta gắn cho mỗi vectơ trên mặt phẳng toạ độ một cặp số để có thể làm việc với vectơ thông qua cặp số đó.
Trên trục số $Ox$, gọi $A$ là điểm biểu diễn số $1$ và đặt $\vec{i} = \overrightarrow{OA}$ (H.4.32a). Gọi $M, N$ lần lượt là các điểm biểu diễn số $4$ và $-\frac{3}{2}$. Hãy biểu thị mỗi vectơ $\overrightarrow{OM}, \overrightarrow{ON}$ theo vectơ $\vec{i}$.
Trục toạ độ (còn gọi là trục, hay trục số) là một đường thẳng mà trên đó đã xác định một điểm $O$ và một vectơ $\vec{i}$ có độ dài bằng $1$.
Trong Hình 4.33:
Trên mặt phẳng với một đơn vị đo độ dài cho trước, xét hai trục $Ox, Oy$ có chung gốc $O$ và vuông góc với nhau. Kí hiệu vectơ đơn vị của trục $Ox$ là $\vec{i}$, vectơ đơn vị của trục $Oy$ là $\vec{j}$.
Định nghĩa toạ độ vectơ:
Với mỗi vectơ $\vec{u}$ trên mặt phẳng $Oxy$, có duy nhất cặp số $(x_0; y_0)$ sao cho $$\vec{u} = x_0\vec{i} + y_0\vec{j}.$$ Ta nói vectơ $\vec{u}$ có toạ độ $(x_0; y_0)$ và viết $\vec{u} = (x_0; y_0)$ hay $\vec{u}(x_0; y_0)$. Các số $x_0, y_0$ tương ứng được gọi là hoành độ, tung độ của $\vec{u}$.
Hai vectơ bằng nhau khi và chỉ khi chúng có cùng toạ độ:
Tìm toạ độ của các vectơ đơn vị $\vec{i}, \vec{j}$ tương ứng của các trục $Ox, Oy$.
Tìm toạ độ của $\vec{0}$.
Trong mặt phẳng toạ độ $Oxy$, cho $\vec{u} = (2; -3), \vec{v} = (4; 1), \vec{a} = (8; -12)$.
Cho hai vectơ $\vec{u} = (x; y)$ và $\vec{v} = (x'; y')$. Khi đó:
Cho $\vec{a} = (1; 2), \vec{b} = \left(\frac{3}{2}; 3\right)$.
Vectơ $\vec{v}(x'; y')$ cùng phương với vectơ $\vec{u}(x; y) \neq \vec{0}$ khi và chỉ khi tồn tại số $k$ sao cho $$x' = kx,\quad y' = ky \quad \left(\text{hay là } \frac{x'}{x} = \frac{y'}{y} \text{ nếu } xy \neq 0\right).$$
Trong mặt phẳng toạ độ $Oxy$, cho điểm $M(x_0; y_0)$. Gọi $P, Q$ tương ứng là hình chiếu vuông góc của $M$ trên trục hoành $Ox$ và trục tung $Oy$ (H.4.35).
Nếu điểm $M$ có toạ độ $(x; y)$ thì vectơ $\overrightarrow{OM}$ có toạ độ $(x; y)$ và độ dài: $$|\overrightarrow{OM}| = \sqrt{x^2 + y^2}.$$
Với vectơ $\vec{u} = (x; y)$, ta lấy điểm $M(x; y)$ thì $\vec{u} = \overrightarrow{OM}$. Do đó: $$|\vec{u}| = |\overrightarrow{OM}| = \sqrt{x^2 + y^2}.$$ Chẳng hạn, vectơ $\vec{u} = (2; -1)$ có độ dài là $|\vec{u}| = \sqrt{2^2 + (-1)^2} = \sqrt{5}$.
Trong mặt phẳng toạ độ $Oxy$, cho các điểm $M(x; y)$ và $N(x'; y')$.
Với hai điểm $M(x; y)$ và $N(x'; y')$ thì: $$\overrightarrow{MN} = (x' - x;\; y' - y)$$ và khoảng cách giữa hai điểm $M, N$ là: $$MN = |\overrightarrow{MN}| = \sqrt{(x' - x)^2 + (y' - y)^2}.$$
Trong mặt phẳng toạ độ $Oxy$, cho ba điểm $A(1; -2), B(3; 2), C(7; 4)$.
Trong mặt phẳng toạ độ $Oxy$, cho hai điểm $A(2; 1), B(3; 3)$.
Trong mặt phẳng toạ độ $Oxy$, cho ba điểm không thẳng hàng: $A(1; 3), B(-2; 6), C(5; 1)$.
Trung điểm $M$ của đoạn thẳng $AB$ có toạ độ là: $$M\left(\frac{x_A + x_B}{2};\; \frac{y_A + y_B}{2}\right).$$
Trọng tâm $G$ của tam giác $ABC$ có toạ độ là: $$G\left(\frac{x_A + x_B + x_C}{3};\; \frac{y_A + y_B + y_C}{3}\right).$$
Từ thông tin dự báo bão được đưa ra ở đầu bài học, hãy xác định toạ độ vị trí $M$ của tâm bão tại thời điểm 9 giờ trong khoảng thời gian 12 giờ của dự báo.
Gợi ý SGK:
Trong 12 giờ, tâm bão được dự báo di chuyển thẳng đều từ $A(13,8;\; 108,3)$ tới $B(14,1;\; 106,3)$. Gọi toạ độ của $M$ là $(x; y)$. Bạn hãy tìm mối liên hệ giữa hai vectơ $\overrightarrow{AM}$ và $\overrightarrow{AB}$ rồi thể hiện mối quan hệ đó theo toạ độ để tìm $x; y$.
Vì tâm bão di chuyển thẳng đều từ $A$ đến $B$ trong 12 giờ nên sau 9 giờ, độ dài quãng đường tâm bão đã đi được bằng $\frac{9}{12} = \frac{3}{4}$ quãng đường từ $A$ đến $B$.
Do đó, hai vectơ $\overrightarrow{AM}$ và $\overrightarrow{AB}$ cùng hướng và có mối liên hệ:
$$\overrightarrow{AM} = \frac{3}{4}\overrightarrow{AB}.$$
Ta có: $$\overrightarrow{AB} = (14,1 - 13,8;\; 106,3 - 108,3) = (0,3;\; -2).$$ Suy ra: $$\frac{3}{4}\overrightarrow{AB} = \left(\frac{3}{4} \cdot 0,3;\; \frac{3}{4} \cdot (-2)\right) = (0,225;\; -1,5).$$
Mặt khác: $\overrightarrow{AM} = (x - 13,8;\; y - 108,3)$.
Từ đó ta có hệ phương trình:
$$\begin{cases} x - 13,8 = 0,225 \\ y - 108,3 = -1,5 \end{cases} \Leftrightarrow \begin{cases} x = 14,025 \\ y = 106,8 \end{cases}$$
Vậy tại thời điểm 9 giờ, tâm bão có toạ độ là $M(14,025;\; 106,8)$ (tức là khoảng $14,025^\circ$ vĩ bắc và $106,8^\circ$ kinh đông).
Để thể hiện một phần Trái Đất trên một bản đồ phẳng người ta dùng một phép chiếu bản đồ, với độ sai khác nhất định giữa bản vẽ và thực địa (thường được quy định với từng loại bản đồ). Về nguyên tắc, phạm vi thể hiện càng hẹp thì càng chính xác. Trong vận dụng này, ta chỉ tính toán trong phạm vi một đoạn đường đi ngắn của tâm bão.