Vectơ pháp tuyến, vectơ chỉ phương, phương trình tổng quát, phương trình tham số của đường thẳng và ứng dụng thực tiễn.
Sau điểm và vectơ, những đối tượng khác của hình học phẳng như đường thẳng, đường tròn, ... sẽ lần lượt được đại số hoá ở chương này. Đối với mỗi đối tượng hình học đó, trước hết ta đưa ra đối tượng đại số tương ứng, được gọi là phương trình của nó. Các mối quan hệ, công thức tính toán hình học sẽ được thể hiện theo các yếu tố của phương trình tương ứng.
Cho vectơ $\vec{n} \ne \vec{0}$ và điểm $A$. Tìm tập hợp những điểm $M$ sao cho $\vec{AM}$ vuông góc với $\vec{n}$.
Hình 7.1a
Vectơ $\vec{AM}$ vuông góc với $\vec{n}$ khi và chỉ khi đường thẳng $AM$ vuông góc với giá của vectơ $\vec{n}$ (hoặc $M$ trùng $A$).
Do đó, tập hợp những điểm $M$ sao cho $\vec{AM}$ vuông góc với $\vec{n}$ là đường thẳng đi qua điểm $A$ và vuông góc với giá của vectơ $\vec{n}$.
Vectơ $\vec{n}$ khác $\vec{0}$ được gọi là vectơ pháp tuyến của đường thẳng $\Delta$ nếu giá của nó vuông góc với $\Delta$.
Hình 7.1b
Trong mặt phẳng toạ độ, cho tam giác có ba đỉnh là $A(3; 1), B(4; 0), C(5; 3)$. Hãy chỉ ra một vectơ pháp tuyến của đường trung trực của đoạn thẳng $AB$ và một vectơ pháp tuyến của đường cao kẻ từ $A$ của tam giác $ABC$.
• Đường trung trực của đoạn thẳng $AB$ vuông góc với $AB$ nên có một vectơ pháp tuyến là: $$\overrightarrow{AB} = (4 - 3; 0 - 1) = (1; -1).$$
• Đường cao kẻ từ $A$ của tam giác $ABC$ vuông góc với $BC$ nên có một vectơ pháp tuyến là: $$\overrightarrow{BC} = (5 - 4; 3 - 0) = (1; 3).$$
Trong mặt phẳng toạ độ, cho đường thẳng $\Delta$ đi qua điểm $A(x_0; y_0)$ và có vectơ pháp tuyến $\vec{n}(a; b)$. Chứng minh rằng điểm $M(x; y)$ thuộc $\Delta$ khi và chỉ khi: $$a(x - x_0) + b(y - y_0) = 0 \quad (1)$$
Ta có $\overrightarrow{AM} = (x - x_0; y - y_0)$.
Điểm $M(x; y)$ thuộc đường thẳng $\Delta$ khi và chỉ khi $\overrightarrow{AM} \perp \vec{n}$ (khi $M \ne A$) hoặc $\overrightarrow{AM} = \vec{0}$ (khi $M \equiv A$).
Trong cả hai trường hợp, điều kiện tương đương với tích vô hướng bằng 0: $$\overrightarrow{AM} \cdot \vec{n} = 0 \iff a(x - x_0) + b(y - y_0) = 0.$$
Trong HĐ2, nếu đặt $c = -ax_0 - by_0$ thì $(1)$ còn được viết dưới dạng $ax + by + c = 0$ và được gọi là phương trình tổng quát của $\Delta$. Như vậy, điểm $M(x; y)$ thuộc đường thẳng $\Delta$ khi và chỉ khi toạ độ của nó thoả mãn phương trình tổng quát của $\Delta$.
Trong mặt phẳng toạ độ, mọi đường thẳng đều có phương trình tổng quát dạng: $$ax + by + c = 0,$$ với $a$ và $b$ không đồng thời bằng 0.
Ngược lại, mỗi phương trình dạng $ax + by + c = 0$, với $a$ và $b$ không đồng thời bằng 0, đều là phương trình của một đường thẳng, nhận $\vec{n}(a; b)$ là một vectơ pháp tuyến.
Trong mặt phẳng toạ độ, lập phương trình tổng quát của đường thẳng $\Delta$ đi qua điểm $A(2; 1)$ và nhận $\vec{n}(3; 4)$ là một vectơ pháp tuyến.
Đường thẳng $\Delta$ có phương trình là: $$3(x - 2) + 4(y - 1) = 0 \iff 3x + 4y - 10 = 0.$$
Trong mặt phẳng toạ độ, cho tam giác có ba đỉnh $A(-1; 5), B(2; 3), C(6; 1)$. Lập phương trình tổng quát của đường cao kẻ từ $A$ của tam giác $ABC$.
Đường cao kẻ từ $A$ vuông góc với $BC$ nên nhận $\overrightarrow{BC} = (6 - 2; 1 - 3) = (4; -2)$ làm vectơ pháp tuyến.
Ta có thể chọn vectơ pháp tuyến rút gọn là $\vec{n} = \dfrac{1}{2}\overrightarrow{BC} = (2; -1)$.
Phương trình tổng quát của đường cao đi qua $A(-1; 5)$ và nhận $\vec{n}(2; -1)$ làm VTPT là: $$2(x - (-1)) - 1(y - 5) = 0 \iff 2(x + 1) - (y - 5) = 0 \iff 2x - y + 7 = 0.$$
Trong mặt phẳng toạ độ, lập phương trình đường thẳng $\Delta$ đi qua điểm $A(0; b)$ và có vectơ pháp tuyến $\vec{n}(a; -1)$, với $a, b$ là các số cho trước. Hãy chỉ ra mối liên hệ giữa đường thẳng $\Delta$ với đồ thị của hàm số $y = ax + b$.
Đường thẳng $\Delta$ đi qua $A(0; b)$ và nhận $\vec{n}(a; -1)$ làm VTPT có phương trình là: $$a(x - 0) - 1(y - b) = 0 \iff ax - y + b = 0.$$
Đường thẳng $\Delta$ là tập hợp những điểm $M(x; y)$ thoả mãn $ax - y + b = 0$, hay là $y = ax + b$.
Do đó, đường thẳng $\Delta: ax - y + b = 0$ chính là đồ thị của hàm số $y = ax + b$.
Hãy chỉ ra một vectơ pháp tuyến của đường thẳng $\Delta: y = 3x + 4$.
Chuyển vế phương trình về dạng tổng quát: $$y = 3x + 4 \iff 3x - y + 4 = 0.$$
Từ phương trình $3x - y + 4 = 0$, một vectơ pháp tuyến của $\Delta$ là $\vec{n} = (3; -1)$ (hoặc $\vec{n}' = (-3; 1)$).
Phương trình có thể đưa về dạng $x = m$ (với $m = -\dfrac{c}{a}$).
Khi đó đường thẳng $\Delta$ song song hoặc trùng với trục tung $Oy$ và vuông góc với $Ox$.
Phương trình có thể đưa về dạng $y = nx + p$ (với $n = -\dfrac{a}{b}, p = -\dfrac{c}{b}$).
Đây là dạng hàm số bậc nhất quen thuộc có hệ số góc $n = -\dfrac{a}{b}$.
Trong Hình 7.2a, nếu một vật thể chuyển động với vectơ vận tốc bằng $\vec{v}$ và đi qua $A$ thì nó di chuyển trên đường nào?
Hình 7.2a
Vật thể di chuyển theo hướng của vectơ vận tốc $\vec{v}$ xuất phát từ $A$, do đó nó di chuyển trên đường thẳng $\Delta_2$ đi qua điểm $A$ và có giá song song với giá của vectơ $\vec{v}$.
Vectơ $\vec{u}$ khác $\vec{0}$ được gọi là vectơ chỉ phương của đường thẳng $\Delta$ nếu giá của nó song song hoặc trùng với $\Delta$.
Hình 7.2b
Trong mặt phẳng toạ độ, cho $A(3; 2), B(1; -4)$. Hãy chỉ ra hai vectơ chỉ phương của đường thẳng $AB$.
Đường thẳng $AB$ nhận $\overrightarrow{AB} = (1 - 3; -4 - 2) = (-2; -6)$ là một vectơ chỉ phương.
Lấy $\vec{u} = -\dfrac{1}{2}\overrightarrow{AB} = (1; 3)$, khi đó $\vec{u}$ cũng là một vectơ chỉ phương của đường thẳng $AB$.
Hãy chỉ ra một vectơ chỉ phương của đường thẳng $\Delta: 2x - y + 1 = 0$.
Đường thẳng $\Delta$ có một vectơ pháp tuyến là $\vec{n} = (2; -1)$.
Do đó, một vectơ chỉ phương của $\Delta$ là $\vec{u} = (1; 2)$ (hoặc $\vec{u}' = (-1; -2)$) vì tích vô hướng $\vec{n} \cdot \vec{u} = 2 \cdot 1 + (-1) \cdot 2 = 0$.
Chuyển động của một vật thể được thể hiện trên mặt phẳng $Oxy$. Vật thể khởi hành từ $A(2; 1)$ và chuyển động thẳng đều với vectơ vận tốc $\vec{v}(3; 4)$.
a) Hỏi vật thể chuyển động trên đường thẳng nào (chỉ ra điểm đi qua và vectơ chỉ phương của đường thẳng đó)?
b) Chứng minh rằng, tại thời điểm $t$ ($t > 0$) tính từ khi khởi hành, vật thể ở vị trí có toạ độ là $(2 + 3t; 1 + 4t)$.
a) Vật thể chuyển động trên đường thẳng đi qua điểm khởi hành $A(2; 1)$ và nhận vectơ vận tốc $\vec{v}(3; 4)$ làm vectơ chỉ phương.
b) Tại thời điểm $t$ ($t > 0$), quãng đường vectơ di chuyển là $\vec{s} = t\vec{v} = (3t; 4t)$.
Gọi $M(x; y)$ là vị trí của vật thể tại thời điểm $t$. Khi đó:
$$\overrightarrow{AM} = t\vec{v} \iff (x - 2; y - 1) = (3t; 4t) \iff \begin{cases} x - 2 = 3t \\ y - 1 = 4t \end{cases} \iff \begin{cases} x = 2 + 3t \\ y = 1 + 4t \end{cases}$$
Vậy tại thời điểm $t$, vật thể ở vị trí có toạ độ là $(2 + 3t; 1 + 4t)$.
Cho đường thẳng $\Delta$ đi qua điểm $A(x_0; y_0)$ và có vectơ chỉ phương $\vec{u}(a; b)$. Khi đó điểm $M(x; y)$ thuộc đường thẳng $\Delta$ khi và chỉ khi tồn tại số thực $t$ sao cho $\overrightarrow{AM} = t\vec{u}$, hay:
Hệ $(2)$ được gọi là phương trình tham số của đường thẳng $\Delta$ ($t$ là tham số).
Lập phương trình tham số của đường thẳng $\Delta$ đi qua điểm $A(2; -3)$ và có vectơ chỉ phương $\vec{u}(4; -1)$.
Phương trình tham số của đường thẳng $\Delta$ là: $$\begin{cases} x = 2 + 4t \\ y = -3 - t \end{cases}$$
Lập phương trình tham số của đường thẳng $\Delta$ đi qua điểm $M(-1; 2)$ và song song với đường thẳng $d: 3x - 4y - 1 = 0$.
Đường thẳng $d$ có vectơ pháp tuyến $\vec{n}_d = (3; -4)$, nên có một vectơ chỉ phương là $\vec{u}_d = (4; 3)$.
Vì $\Delta \parallel d$ nên $\Delta$ nhận $\vec{u}_d = (4; 3)$ làm một vectơ chỉ phương.
Đường thẳng $\Delta$ đi qua điểm $M(-1; 2)$ và có vectơ chỉ phương $\vec{u}(4; 3)$ có phương trình tham số là: $$\begin{cases} x = -1 + 4t \\ y = 2 + 3t \end{cases}$$
Lập phương trình tham số của đường thẳng đi qua hai điểm $A(2; 3)$ và $B(1; 5)$.
Đường thẳng $AB$ đi qua $A(2; 3)$ và nhận $\overrightarrow{AB} = (1 - 2; 5 - 3) = (-1; 2)$ làm vectơ chỉ phương.
Do đó phương trình tham số của đường thẳng $AB$ là: $$\begin{cases} x = 2 - t \\ y = 3 + 2t \end{cases}$$
Lập phương trình tham số và phương trình tổng quát của đường thẳng đi qua hai điểm phân biệt $A(x_1; y_1), B(x_2; y_2)$ cho trước.
• Đường thẳng $AB$ đi qua $A(x_1; y_1)$ và nhận $\overrightarrow{AB} = (x_2 - x_1; y_2 - y_1)$ làm vectơ chỉ phương nên có phương trình tham số: $$\begin{cases} x = x_1 + (x_2 - x_1)t \\ y = y_1 + (y_2 - y_1)t \end{cases} \quad (t \in \mathbb{R}).$$
• Từ vectơ chỉ phương $\overrightarrow{AB} = (x_2 - x_1; y_2 - y_1)$, suy ra một vectơ pháp tuyến của $AB$ là $\vec{n} = (y_2 - y_1; -(x_2 - x_1))$.
Phương trình tổng quát của đường thẳng $AB$ đi qua $A(x_1; y_1)$ là: $$(y_2 - y_1)(x - x_1) - (x_2 - x_1)(y - y_1) = 0.$$
(Nếu $x_2 \ne x_1$ và $y_2 \ne y_1$, ta có thể viết dưới dạng phương trình chính tắc: $\dfrac{x - x_1}{x_2 - x_1} = \dfrac{y - y_1}{y_2 - y_1}$).
Việc quy đổi nhiệt độ giữa đơn vị độ C (Anders Celsius, 1701 – 1744) và đơn vị độ F (Daniel Fahrenheit, 1686 – 1736) được xác định bởi hai mốc sau:
Trong quy đổi đó, nếu $a^\circ\text{C}$ tương ứng với $b^\circ\text{F}$ thì trên mặt phẳng toạ độ $Oxy$, điểm $M(a; b)$ thuộc đường thẳng đi qua $A(0; 32)$ và $B(100; 212)$.
Nhiệt kế dùng hai đơn vị đo là độ F và độ C
Đường thẳng $AB$ đi qua hai điểm $A(0; 32)$ và $B(100; 212)$. Ta có: $$\overrightarrow{AB} = (100 - 0; 212 - 32) = (100; 180) = 20(5; 9).$$
Chọn vectơ pháp tuyến là $\vec{n} = (9; -5)$. Phương trình tổng quát của đường thẳng $AB$ đi qua $A(0; 32)$ là: $$9(x - 0) - 5(y - 32) = 0 \iff 9x - 5y + 160 = 0 \iff y = \dfrac{9}{5}x + 32 \iff x = \dfrac{5}{9}(y - 32).$$ Trong đó $x$ là nhiệt độ theo độ C ($^\circ\text{C}$) và $y$ là nhiệt độ theo độ F ($^\circ\text{F}$).
• Khi $y = 0^\circ\text{F}$: $$x = \dfrac{5}{9}(0 - 32) = -\dfrac{160}{9} \approx -17,78^\circ\text{C}.$$
• Khi $y = 100^\circ\text{F}$: $$x = \dfrac{5}{9}(100 - 32) = \dfrac{340}{9} \approx 37,78^\circ\text{C}.$$
Vậy $0^\circ\text{F}$ tương ứng với khoảng $-17,78^\circ\text{C}$, và $100^\circ\text{F}$ tương ứng với khoảng $37,78^\circ\text{C}$.
Hồi quy tuyến tính là một phương pháp được sử dụng trong thống kê để dự báo về mối quan hệ giữa các đại lượng dựa trên kết quả thống kê mẫu. Chẳng hạn, để dự báo về mối quan hệ giữa hai đại lượng $x$ và $y$ ($y$ phụ thuộc vào $x$ như thế nào), từ kết quả thống kê được thể hiện ở Hình 7.4a, phương pháp hồi quy tuyến tính đưa ra đường thẳng $\Delta$ (H.7.4b) thể hiện gần đúng nhất mối quan hệ giữa các đại lượng $x$ và $y$ đã được thống kê. Về mặt hình ảnh, các chấm xanh trên hình vẽ (có toạ độ là các cặp giá trị $(x; y)$ trong kết quả thống kê) tập trung dọc theo $\Delta$.
Để xác định $\Delta$ (phương trình $y = ax + b$), người ta thường dùng tiêu chuẩn gọi là bình phương nhỏ nhất như sau: Với mỗi cặp $(x_0; y_0)$ trong kết quả thống kê, xét bình phương khoảng cách từ $M(x_0; y_0)$ đến $M'(x_0; ax_0 + b)$. Khi đó, $a, b$ được chọn sao cho tổng các bình phương này là nhỏ nhất.
Nhờ đưa ra được đường thẳng biểu thị (gần đúng) sự phụ thuộc giữa đại lượng $y$ theo đại lượng $x$, người ta có thể đưa ra các dự báo nằm ngoài kết quả thống kê. Tất nhiên, không phải mô hình nào cũng phù hợp với phương pháp này, ngay cả khi kết quả thống kê tập trung dọc một đường thẳng. Chẳng hạn, để xác định đường đi của một quả tên lửa, nếu dựa vào một số quan sát ban đầu để dự đoán, ta có thể nghĩ rằng nó chuyển động thẳng, nhưng trên thực tế, nhìn chung nó đi theo đường parabol. Sai lầm trong những dự báo như vậy thật là tai hại!
